Đào tạo Cơ điện tử tại Học viện Kỹ thuật quân sự

sgesvn

Moderator
Thành viên BQT
#1
Tại Học viện KTQS, vấn đề đào tạo kỹ sư cơ điện tử (CĐT) được thai nghén từ năm 1997. Đề xuất ban đầu được trình lên lãnh đạo Học Viện là mở cao học chuyên ngành này, nhằm "nâng cấp" các kỹ sư cơ khí để đáp ứng nhu cầu khai thác, đảm bảo kỹ thuật cho các loại vũ khí, khí tài thế hệ mới. Đến năm 2002, Học viện chính thức tuyển sinh đào tạo đại học CĐT chính quy hệ dân sự và giao cho Bộ môn CĐT và CTM đặc biệt thuộc Khoa Hàng không Vũ trụ chủ trì. Tiếp đó, năm 2003 chuyên ngành CĐT được mở cho hệ quân sự. Năm 2007 lớp CĐT khoá 1 hệ dân sự đã ra trường, đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình đào tạo kỹ sư CĐT tại Học viện KTQS. Từ đó hàng năm có khoảng 100 kỹ sư CĐT tốt nghiệp tại Học viện KTQS. Từ 2004, Học viện đã bắt đầu làm hồ sơ xin đào tạo cao học chuyên ngành CĐT. Trong khi chờ phép của Bộ GD&ĐT, chúng tôi đã định các đề tài luận văn cao học và luận án tiến sĩ theo hướng CĐT và đã thực hiện với hàng chục luận văn cao học, 5 luận án TS. Sau khi được phép của Bộ GD&ĐT, Học viện đã chính thức tuyển sinh cao học CĐT được 2 khoá.
Cho đến nay, vấn đề CĐT dường như đã thuận lợi và rõ ràng: Bộ GD&ĐT đã quyết định CĐT thành một ngành độc lập với chương trình khung riêng. CĐT không chỉ trở thành ngành "hot", có trong danh mục ngành nghề của hầu hết các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam, mà trên thế giới CĐT cũng được đánh giá là "1 trong 10 công nghệ của thế kỷ 21 có khả năng làm thay đổi thế giới" (tạp chí Technology Review - MIT, Mỹ).
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề, khiến nhiều người, trong đó có nhiều thầy và trò "trong ngành" băn khoăn, như: chân dung của kỹ sư CĐT như thế nào? họ có gì khác với các kỹ sư cơ khí, tự động hoá, tích hợp hệ thống? vị trí làm việc của họ ở đâu? phẩm chất và thế mạnh đặc biệt của họ là gì? làm thế nào để trong cùng thời gian đào tạo như mọi ngành mà kỹ sư CĐT lại học được các kiến thức và kỹ năng của nhiều ngành khác? dạy và học CĐT như thế nào?...
Những băn khoăn này không chỉ có ở chúng ta mà có thể "đọc" được cả ở trên các diễn đàn quốc tế. Ví dụ, hầu hết các bài giới thiệu về chương trình đào tạo CĐT của các trường vẫn còn được bắt đầu bằng giải thích: CĐT là gì? kỹ sư CĐT làm gì?.. Không biết có phải do đào tạo CĐT được quan tâm đặc biệt hay không mà tạp chí "Robotics and Automation - IEEE" dành cho nó trọn 1 số (số 2, 1-2001 với tiêu đề "A Degree of Synergy - The Interdisciplinary Nature of Mechatronics Education").
Mặc dù đã có nhiều trăn trở và có một vài kinh nghiệm, nhưng với một vấn đề rộng lớn và khó như mô tả ở trên, chúng tôi chỉ dám đóng góp vài ý kiến nhỏ, mang tính cục bộ ở một trường. Đó là:
- Sự cần thiết phải đào tạo CĐT;
- Những đặc điểm, yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của kỹ sư CĐT;
- Một số giải pháp về chương trình, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên.

 

sgesvn

Moderator
Thành viên BQT
#2
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA KỸ SƯ CƠ ĐIỆN TỬ
Bất cứ một quốc gia nào, dù giàu hay nghèo, dù tiên tiến hay lạc hậu về khoa học, công nghệ,... đều không thể nằm ngoài xu hướng tiến tới một xã hội hiện đại. Nhìn từ góc độ đào tạo, chúng ta có thể kể ra một số đặc điểm của xã hội hiện đại làm xuất hiện nhu cầu về kỹ sư CĐT như sau:
Thứ nhất, xã hội hiện đại hướng tới thoả mãn tối đa nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Cho đến giữa thế kỷ XX, khách hàng còn chấp nhận các đồ dùng được sản xuất hàng loạt, tuy bền chắc, tin cậy, giá rẻ nhưng mẫu mã đơn điệu, ít thay đổi,... Ví dụ, một mẫu ôtô có thể tồn tại trên dây chuyền sản xuất đến vài chục năm; sau khi xuất xưởng chúng còn được dùng đến vài chục năm tiếp theo. Vào thời gian đó, việc phát triển một loại ôtô mới (từ thiết kế, chuẩn bị công nghệ, lắp đặt dây chuyền, chế thử,...) cũng phải kéo dài từ 5 đến 10 năm. Như vậy một kỹ sư cơ khí có thể cả đời chỉ làm việc với một loại hoặc vài loại ôtô tương tự nhau. Ngay trong nhà trường, anh ta đã được nghiên cứu rất tỷ mỷ về kết cấu, được thực hành tháo lắp rất thành thạo mỗi loại ôtô nên ra trường là làm việc được ngay. Sau đó, từ khi tốt nghiệp cho đến khi nghỉ hưu, anh ta không cần đào tạo bổ sung, chỉ cần tích luỹ kinh nghiệm nghề nghiệp là đủ. Vào thời gian đó, các kỹ sư thuộc từng con ốc, thuộc lòng từng "pan" thuộc mẫu người được ngưỡng mộ nhất. Sang nửa cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, khách hàng ngày càng ít chấp nhận đồ sản xuất hàng loạt, có tâm lý chuyển dần sang thích dùng "đồ thửa", thoả mãn những yêu cầu riêng biệt của mình. Tâm lý thích "ăn chắc mặc bền" dần dần nhường chỗ cho sở thích thường xuyên thay đổi kiểu dáng, tính năng của đồ dùng. Ngày nay, đồ dùng bị loại bỏ không phải vì hỏng (hao mòn vật lý) mà vì kiểu cũ, tính năng không hiện đại (hao mòn vô hình). Không những thế, đồ dùng còn phải phù hợp với túi tiền, môi trường sử dụng và tập quán của người dùng. Ví dụ, ôtô được thiết kế riêng cho người châu Âu, người châu Á; có các hạng ôtô riêng cho các VIP, các "sao", cho người có thu nhập thấp,... Các hãng sản xuất ôtô mỗi năm phải đưa ra hàng chục mẫu ôtô mới. Nếu tính đến sản phẩm của tất cả các hãng sản xuất ôtô thì số chủng loại thật sự là con số khổng lồ, mẫu mã thì thay đổi đến chóng mặt. Trong bối cảnh đó, không một nhà trường nào có khả năng đào tạo ra các kỹ sư "thạo nghề" như trước đây. Kỹ sư hiện đại phải được đào tạo theo hướng chuyên môn rộng, có khả năng thích nghi cao, biết sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại thay cho kinh nghiệm cá nhân.
Thứ hai, trong xã hội hiện đại, kết cấu, tính năng của các sản phẩm công nghiệp đã thay đổi về căn bản. Sự thay đổi về kết cấu, tính năng của sản phẩm công nghiệp chịu tác động từ 2 phía. Một mặt, do tiêu chí chất lượng của sản phẩm đã thay đổi. Ngày nay, người tiêu dùng ít quan tâm đến độ bền chắc, đến tuổi thọ mà quan tâm nhiều hơn đến tiện nghi, sự nhẹ nhàng, giảm chi phí năng lượng, an toàn, giảm ô nhiễm môi trường,... Mặt khác, việc ứng dụng các thành tựu tiên tiến nhất của khoa học, công nghệ cũng tạo ra những tiến bộ vượt bậc về kết cấu, tính năng của sản phẩm. Kết cấu của sản phẩm phát triển theo hướng chuyển các chức năng điều khiển, truyền động từ cơ sang điện, điện tử; từ phần cứng sang phần mềm, khiến cho sản phẩm có kết cấu đơn giản, tin cậy, tiêu thụ ít năng lượng và dễ biến đổi. Cũng lấy ví dụ về ôtô, các hệ thống giám sát và điều khiển trên cơ sở kỹ thuật điện tử, máy tính đã được sử dụng rộng rãi: phun xăng điện tử thay cho chế hoà khí cổ điển giúp tiết kiệm xăng, tăng công suất động cơ, giảm ô nhiễm môi trường; hệ thống chống khoá phanh (Anti-lock Braking System) điện tử nhỏ gọn, làm việc tin cậy, thông minh, hiệu quả hơn rất nhiều so với hệ thống cơ khí; túi khí (Airbag), tự động phồng lên khi xảy ra va chạm, tránh cho người ngồi trong xe bị va vào các vật cứng; các hệ thống điều hoà không khí, đóng cửa, chống trộm,... được điều khiển bằng máy tính. Hầu hết các hệ thiết bị trên là sản phẩm cơ điện tử, được sản xuất theo modul, các nhà sản xuất ôtô chọn và tích hợp sẵn lên xe hoặc lắp đặt theo yêu cầu riêng của khách hàng. Xu hướng thay đổi kết cấu, tính năng của sản phẩm như trong ví dụ trên đòi hỏi ở các kỹ sư bảo trì không chỉ kiến thức cơ khí mà cả điện, điện tử, phần mềm.
Thứ ba, những yêu cầu mới về tính năng, mẫu mã buộc các nhà sản xuất phải thay đổi công nghệ. Vào những năm 1950, khi các sản phẩm sản xuất hàng loạt được ưa chuộng thì công nghệ sản xuất kiểu dây chuyền hàng khối là chủ đạo vì có hiệu quả cao. Ngày nay, sản phẩm đa dạng, mẫu mã thay đổi nhanh khiến sản xuất loạt nhỏ với các thiết bị tự động điều khiển số (máy và trung tâm gia công CNC, robot công nghiệp, xe tự hành (AGV), kho hàng tự động,...) được ưa chuộng vì có hiệu quả cao hơn. Điều đó giải thích vì sao công nghệ nhóm (Group Technology - GT), sản xuất linh hoạt (Flexible Manufacturing Systems - FMS) được phát minh từ giữa thế kỷ trước nhưng cho đến cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI mới được ứng dụng rộng rãi. Một xu hướng mới nữa trong công nghệ chế tạo sản phẩm hiện đại là modul hoá và tích hợp hệ thống. Việc chế tạo "từ A đến Z" một sản phẩm phức tạp, gồm cả các hệ thống cơ khí, điện tử, phần cứng, phần mềm không mang lại hiệu quả cho các nhà sản xuất. Chuyên môn hoá tạo điều kiện cho mỗi công ty tập trung đầu tư vào lĩnh vực có thế mạnh để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Từ đó hình thành các hãng chuyên sản xuất các modul chuyên dùng, ví dụ Siemens (Đức), Omron (Nhật) chuyên sản xuất các thiết bị điện tử, điều khiển; các hãng khác sản xuất cơ khí và tổ hợp toàn bộ thiết bị. Ngày nay các modul điều khiển được sản xuất theo tiêu chuẩn, sử dụng các chuẩn giao tiếp, truyền thông chung, kèm theo các thư viện phần mềm, sẵn sàng cho việc tích hợp vào hệ thống công tác. Xu hướng modul hoá, tiêu chuẩn hoá kết cấu giúp cho các kỹ sư không phải chuyên ngành điện tử và điều khiển nhưng hiểu biết về hệ thống công tác có thể tự tích hợp hệ điều khiển. Thực tế cho thấy kỹ sư cơ khí (thiết kế ra cơ cấu công tác) tiếp cận hệ điều khiển dễ dàng hơn các kỹ sư điều khiển tiếp cận phần công tác. Nếu kỹ sư cơ khí được trang bị kiến thức và kỹ năng điều khiển ở mức độ cần thiết thì việc tổ hợp hệ thống đối với họ càng dễ dàng hơn.
Tóm lại, trong xã hội hiện đại có sự đổi mới toàn diện về thói quen tiêu dùng; tiêu chí, kết cấu và tính năng của sản phẩm; công nghệ thiết kế và chế tạo, sửa chữa, bảo trì chúng. Điều đó rất xa lạ với các loại hình kỹ sư truyền thống, tất yếu đòi hỏi một loại kỹ sư mới- kỹ sư CĐT. Nói cách khác, kỹ sư CĐT sinh ra do nhu cầu khách quan của một xã hội hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà thuật ngữ CĐT xuất hiện lần đầu (năm 1966) ở Nhật, một nước công nghiệp mới phát triển chứ không ở châu Âu, Mỹ, những nơi có trình độ công nghệ phát triển đến đỉnh điểm nhưng theo hướng truyền thống.
Ở nước ta, nhu cầu về một loại "kỹ sư đa năng" đã xuất hiện từ thời chiến tranh chống Mỹ. Khi đó, nền công nghiệp của nước ta còn chưa phát triển và chủ yếu phục vụ chiến tranh. Các thiết bị công nghiệp chưa được tự động hoá, nhưng một số vũ khí, khí tài dùng trong Quân đội, như xe tăng, pháo phòng không, tên lửa, máy bay đã là các hệ thống tự động hoá cơ - điện tích hợp. Trong khi đó, tại các trạm sửa chữa của trung đoàn, sư đoàn vẫn tổ chức riêng biệt các đội sửa chữa điện, cơ. Đã xảy ra nhiều trường hợp, kỹ sư cơ khí xuống đơn vị khắc phục sự cố của vũ khí nhưng không được lại phải về gọi kỹ sư điện và ngược lại. Điều đó không chỉ gây phiền phức cho công tác đảm bảo kỹ thuật mà cái chính là chậm trễ, làm mất thời cơ chiến đấu của đơn vị.
Hiện nay và trong tương lai gần, cùng với sự phát triển công nghệ cao, do yêu cầu CNH, HĐH nền kinh tế, nhu cầu cán bộ chuyên ngành CĐT sẽ càng lớn.
Các hoạt động chính thức về CĐT ở Việt Nam bắt đầu từ khoảng năm 2000. Trong chiến lược KHCN đến năm 2010 do Chính phủ ban hành, CĐT được coi là một trong những hướng công nghệ ưu tiên. Hội thảo khoa học đầu tiên về CĐT (Vietnam Conference on Mechatronics - VCM) được tổ chức lần đầu tại Khu Công nghệ cao Hoà Lạc vào năm 2002. Từ đó, Hội thảo được tổ chức đều đặn 2 năm 1 lần. Để tập hợp đội ngũ, phát triển tiềm lực cho ngành CĐT Việt Nam, Hội CĐT Việt Nam (Vietnam Mechatronics Association - VMA) đã được thành lập và ra mắt vào tháng 12-2006. Việc có nhiều cán bộ chủ chốt của Nhà nước tham gia vào Thường trực BCH Hội (Ông Đỗ Hữu Hào, thứ trưởng Bộ Công thương - Chủ tịch hội; GS.TSKH Nguyễn Khoa Sơn, Phó viện trưởng Viện KH&CN Việt Nam, GS.TSKH Bành Tiến Long, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT - Phó Chủ tịch hội và nhiều Giám đốc doanh nghiệp, cán bộ giảng dạy tại các trường ĐH,...) cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và xã hội đến CĐT.
Hiện nay, Hội CĐT Việt Nam đã là thành viên chính thức của Hội CĐT thế giới. Hội thảo quốc tế về CĐT (International Conference on Mechatronics Technology - ICMT) được tổ chức 4 năm 1 lần, năm 2004 đã được tổ chức ở Việt Nam. Hội CĐT Việt Nam đã tham gia đồng tổ chức Hội nghị quốc tế lần thứ 10 (2008) tại Hà Nội về Điều khiển, Tự động hoá, Robotics và Thị giác máy (10th International Conference on Control, Automation, Robotics and Vision - ICARCV 2008).
2. NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI KỸ SƯ CƠ ĐIỆN TỬ
Có thể nói, hiện nay CĐT là một trong những ngành được xã hội quan tâm nhất. Đến với CĐT và tham gia vào đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng CĐT có chuyên gia từ các ngành cơ khí, tự động hoá, điện tử, công nghệ thông tin. Họ tìm thấy tiếng nói chung, tâm đắc ở CĐT, và đó thực sự là điều rất đáng mừng cho CĐT. Nhưng nhìn theo khía cạnh khác thì đây cũng là thử thách: mỗi người tìm thấy ở CĐT những nét riêng của ngành mình và "lái" CĐT theo hướng đó. Vậy CĐT có gì riêng? kỹ sư CĐT có gì khác với kỹ sư cơ khí, tự động hoá, điện tử, CNTT, tích hợp hệ thống? Có trả lời được câu hỏi này một cách thoả đáng thì mới có thể đưa ra giải pháp đúng đắn về chương trình, phương pháp, tổ chức đào tạo CĐT.
Có nhiều định nghĩa và mô hình CĐT. Để hình dung về kỹ sư CĐT, xin được phân tích ngắn về 2 mô hình sau. Mô hình (a) [1] cho thấy CĐT có nguồn gốc là cơ khí, được hình thành nhờ tích hợp với một phần của kỹ thuật điện tử và kỹ thuật phần mềm, hình thành phần vật lý và phần trí tuệ của thiết bị. Hình (b) nói lên rằng trong hệ CĐT, phần cơ khí được ví như cơ bắp, sensor như các giác quan, máy tính điều khiển như bộ não; nhưng tư tưởng chính được gửi gắm ở đây là tất các các thứ đó phải được tích hợp hữu cơ với nhau như trong một cơ thể sống, thành một thiết bị thông minh.

Sự hình thành và phát triển của CĐT (a) và mô hình hệ thống CĐT (b)
Đối tượng như vậy đòi hỏi một phương pháp tiếp cận mới trong thiết kế. Về phương pháp luận, thiết kế CĐT khác với thiết kế truyền thống với đặc trưng là tuần tự, chia cắt theo từng lĩnh vực, còn gọi là "thiết kế dưới lên (Bottom-up)". Thiết kế kiểu CĐT là thiết kế đồng thời, kết hợp các lĩnh vực, hay "thiết kế trên xuống (Top-down)". Ví dụ, trước đây thường người ta thiết kế và chế tạo phần cơ khí, sau đó lắp đặt phần truyền động điện, mạch điều khiển, rồi cuối cùng mới đến phần mềm. Cách làm đó thường sinh ra các yêu cầu thừa, làm cho hệ thống cồng kềnh, rối rắm, thậm chí giai đoạn sau phải sửa lỗi của giai đoạn trước. Ngày nay, người ta xây dựng các mô hình đa vật lý (cơ, điện, thuỷ, khí,...), chấp hành và điều khiển đồng thời, theo kiểu mô hình 1-> mô phỏng -> mô hình 2,... để kiểm tra và hoàn thiện dần kết cấu và các thông số, rồi cuối cùng mới chế tạo theo mô hình đã được thiết kế tối ưu. Phương pháp thiết kế này vừa nhanh, vừa dễ đạt giải pháp tối ưu: gọn, tin cậy, rẻ, dễ chế tạo nhờ phối hợp được các điểm mạnh của từng lĩnh vực, không những chúng không cản trở nhau mà còn bổ trợ, bù trừ cho nhau.
Những đặc trưng của sản phẩm (phần vật lý tích hợp trí tuệ - Physical system with built-in Intelligence) và phương pháp thiết kế (đồng thời - Concurrent Enginerring) đòi hỏi công cụ thiết kế mới, dựa trên kỹ thuật mô hình hoá (Modeling), mô phỏng (Simulation), tối ưu hoá (Optimization) có trợ giúp của máy tính. Nhiều công cụ thiết kế đơn ngành trước đây, như các phần mềm CAD thuần tuý dùng cho cơ khí (Solidwork, Pro/Engineer) hoặc các phần mềm tích hợp hệ thống (Matlab) đã được bổ sung các công cụ hoặc liên kết với nhau thành các môi trường thiết kế đa ngành để đáp ứng nhu cầu thiết kế CĐT.
Thiết kế CĐT cũng đòi hỏi hình thức tổ chức mới đối với đội ngũ cán bộ thiết kế. Đó là hình thức nhóm công tác (Team-work) thay cho hình thức tổ chức truyền thống, trong đó các kỹ sư cơ khí, điện, điện tử, phần mềm,... làm việc độc lập với nhau. Trong nhóm thiết kế CĐT, người điều hành dự án (Project Manager) thường do kỹ sư CĐT đảm nhiệm. Người điều hành phải biết thiết kế, phân tích tổng thể hệ thống, đặt ra yêu cầu, phân công và chỉ đạo các thành viên thực hiện các phần việc riêng biệt của họ, và sẽ là người kiểm tra lần cuối, nối ghép, hiệu chỉnh, lập trình, thiết đặt các tham số chung cho hệ thống. Phương pháp làm việc như vậy được gọi là tiếp cận hệ thống (Systems Approach).
Như vậy, kỹ sư CĐT có gốc ngành gần là cơ khí, được trang bị các kiến thức điều khiển, điện tử, tin học ở mức tích hợp hệ thống cùng các công cụ máy tính trợ giúp công tác mô hình hoá, tích hợp và phân tích hệ thống; được giáo dục và luyện tập kỹ năng làm việc theo nhóm để có thể tham gia với vai trò chủ chốt hoặc điều hành dự án. Cụ thể, ngoài những tố chất chung của kỹ sư nói chung, kỹ sư CĐT cần trau dồi khả năng tác nghiệp, giải quyết các nhiệm vụ thuộc nghề nghiệp. Năng lực thực hành của kỹ sư CĐT được hình thành trên cơ sở:
- Nắm vững kiến thức cơ sở (Mechanics, Electronics, Control, Computer);
- Sử dụng thành thạo các công cụ CAD/CAE/CAM, Matlab, C++/VB;
- Sử dụng ngoại ngữ trong học tập, nghiên cứu, giao tiếp;
- Kỹ năng tìm hoặc tạo việc làm, thực thi, tổ chức, tạo thu nhập;
- Có khả năng cập nhật kiến thức: học mọi lúc, mọi nơi, học suốt đời;
- Có kỹ năng mềm (Soft Skills): giao tiếp, thuyết phục, tổ chức, lãnh đạo.
 

sgesvn

Moderator
Thành viên BQT
#3
3. GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO CƠ ĐIỆN TỬ
Nguồn tài liệu phong phú về đào tạo CĐT ở các nước cho thấy các nước trên thế giới đều quan tâm đến đào tạo kỹ sư CĐT, trong đó các nước có nền công nghệ hiện đại như Mỹ, Nhật, Cộng đồng châu Âu đưa ra chương trình đào tạo CĐT sớm nhất. Trong ngành CĐT có các chuyên ngành hẹp: robot, điều khiển tự động, cơ khí chính xác, y sinh,... Tạp chí Robot và Tự động hoá (Robotics & Automation Magazine) đã dành riêng một số để đăng các bài viết xung quanh các vấn đề: quan niệm về CĐT, chương trình, tổ chức đào tạo CĐT tại các trường lớn trên thế giới. Có thể nhận thấy, các quan niệm về CĐT, chương trình đào tạo tương đối thống nhất nhưng phương pháp đào tạo có khác nhau tuỳ theo điều kiện của mỗi trường, mỗi nước [8, 9]. Ví dụ, tại một số trường ở Mỹ, người ta đào tạo kỹ sư CĐT bằng cách trang bị bổ sung kiến thức điện tử, điều khiển bằng máy tính cho kỹ sư cơ khí. Trường Tổng hợp quốc gia Colorado (Colorado State University - CSU) đưa ra 4 bước phát triển chương trình đào tạo kỹ sư cơ khí trên nền CĐT (Mechatronics-Based Mechanical Engineering Program) thông qua đổi mới từng nội dung môn học và cuối cùng tích hợp chúng thành hệ thống hoàn chỉnh. Trong khi đó, trường Tổng hợp Waterloo, Canada thành lập Bộ môn Cơ điện tử trong Khoa Cơ khí nhưng lại đào tạo kỹ sư CĐT bằng cách lấy các kỹ sư có gốc ngành khác nhau (cơ khí, điện tử, điều khiển, máy tính) rồi cho học bổ sung các học phần phù hợp, gọi là Mechatronics Option và đồ án thiết kế CĐT [3]. Tại các nước công nghiệp mới, sự phát triển thần kỳ trong công nghiệp có được là nhờ đi theo hướng CĐT. Tại Đài Loan, Hàn Quốc, CĐT trở thành nền tảng của các ngành công nghiệp ôtô, sản xuất hàng dân dụng. Trung Quốc đã sử dụng CĐT làm bước đệm để phát triển công nghệ hạt nhân và hàng không vũ trụ. Theo gương các nước công nghiệp mới, các nước đang phát triển đã tìm thấy ở CĐT con đường rút ngắn khoảng cách về công nghệ so với các nước tiên tiến.
Ở Việt Nam, đào tạo kỹ sư CĐT còn là vấn đề mới. Tại các hội nghị quốc tế và quốc gia về công nghệ CĐT luôn có chuyên mục hoặc tiểu ban về đào tạo CĐT, trong đó có sự tham gia sôi nổi của các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các doanh nhân. Dưới sự chủ trì của Hội Cơ học Việt Nam và ĐHBK Hà Nội, đã có 2 hội nghị toàn quốc về giảng dạy CĐT (năm 2005 và 2009) với sự tham gia rộng rãi của các trường ĐH, các trung tâm, doanh nghiệp trong nước và bạn bè quốc tế.
Trên cơ sở những gì đúc kết được sau một số năm đào tạo CĐT, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư CĐT.
1. Trước hết, nhà trường và người học đều phải xác định lại mục tiêu đào tạo và mục tiêu học tập. Không phải tất cả nhưng số đông đang chạy theo những mục tiêu đào tạo và học tập không giống như trong tôn chỉ của mình mà buông xuôi chất lượng. Nhà trường phải đặt lên hàng đầu mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH nền kinh tế và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Người học phải đặt lên hàng đầu mục tiêu học tập để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh. Mục tiêu chính trị này là mục tiêu chung của cả nhà trường lẫn người học và được đặt ra ở bất kỳ nước nào. Mặt khác, khi đã thừa nhận thị trường lao động thì không thể không thừa nhận thị trường đào tạo (cung ứng lao động). Khách hàng trực tiếp của nhà trường không phải các cơ quan, doanh nghiệp sử dụng lao động (trừ khi họ trực tiếp đặt hàng đào tạo) mà chính là người học. Người học bỏ tiền ra để được đào tạo thành người có kiến thức, năng lực đáp ứng và có sức cạnh tranh cao trong thị trường lao động (học để lập thân, lập nghiệp). Nhà trường nhận học phí để đào tạo, thoả mãn yêu cầu chính đáng nói trên của người học. Tuy không phải khách hàng trực tiếp của nhà trường nhưng các cơ quan, doanh nghiệp là nơi mua sức lao động của người học nên phản ứng, thái độ đón nhận người lao động của các cơ quan, doanh nghiệp là thước đo, đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường. Người học cũng căn cứ vào đó để chọn trường, chọn ngành. Để tạo được nguồn lao động dồi dào, đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình, các cơ quan, doanh nghiệp cần chủ động hợp tác, hỗ trợ các trường trong định hướng ngành nghề hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho đào tạo; hỗ trợ sinh viên về kinh tế (cấp học bổng, nhận thực tập,...). Ở đây có mối liên hệ tay ba: nhà trường - xã hội - người học, trong đó mỗi thành phần đòi hỏi ở nhau, có nghĩa vụ với nhau, hợp tác với nhau để đạt được mục đích kinh tế, xã hội riêng của mình. Đây là mối quan hệ lành mạnh, bình đẳng và là chất keo gắn kết nhà trường, người học với xã hội, là động lực nâng cao chất lượng đào tạo.
2. Để đáp ứng nhu cầu của thị trường đào tạo nhất thiết phải đổi mới công nghệ đào tạo. Với công nghệ đào tạo hiện đại, vai trò chủ đạo được chuyển sang người học, đồng thời phát huy được vai trò của khoa học công nghệ hiện đại và công nghệ thông tin. Chi tiết về công nghệ đào tạo mới, chúng tôi sẽ trình bày trong các chuyên đề khác.
3. Đổi mới chương trình đào tạo có tham khảo chương trình chuẩn của các nước tiên tiến; gồm có xây dựng chương trình; xây dựng hệ thống thí nghiệm, thực hành; xây dựng hệ thống thực tập, đồ án; phương pháp đánh giá kết quả học tập.
Trên đây là các giải pháp chung, trong đó có những giải pháp vĩ mô. Trong phạm vi báo cáo này, chỉ xin tóm lược các giải pháp cụ thể sau:
- Chương trình đào tạo: cơ bản, tiên tiến, sát thực tế, cập nhật;
- Đầu tư thích đáng về thời gian, nội dung và tổ chức thí nghiệm, thực hành, thực tập, đồ án;
- Phương pháp đào tạo: chủ động, tích cực, theo tình huống;
- Môi trường “Learn By Doing”, trong đó thầy làm gương và có đủ phương tiện thí nghiệm, thực hành, quy chế quản lý mềm dẻo để đáp ứng nhu cầu học tập mọi lúc, mọi nơi của sinh viên;
- Tổ chức hoạt động ngoại khoá: nghiên cứu khoa học, thi giải pháp công nghệ, câu lạc bộ hướng nghiệp, rèn luyện kỹ năng.
4. KẾT LUẬN
Với chưa đến chục năm đào tạo CĐT và 3 khoá đã tốt nghiệp nên chưa thể nói là chúng tôi đã có bề dày kinh nghiệm đào tạo. Tuy nhiên, có thể nói chúng tôi đã đạt được kết quả đáng ghi nhận. Thành công không phải ở số lượng mà ở chất lượng sinh viên tốt nghiệp, ở sức cạnh tranh, tìm việc làm, khả năng trụ vững và phát triển trong thị trường lao động khắc nghiệt hiện nay. Do khuôn khổ có hạn của báo cáo, chúng tôi không thể đưa vào đây những hình ảnh về sinh viên bảo vệ đồ án, NCKH, tham gia robocon, văn nghệ, thể thao... thể hiện khí thế phơi phới của tuổi trẻ nhìn vào tương lai.
Tuy nhiên, những hạn chế chúng tôi phải khắc phục là một tỷ lệ không nhỏ sinh viên có trình độ ngoại ngữ yếu, phong cách làm việc và giao tiếp kém, thụ động; ý thức học tập, trí tiến thủ không cao. Những khuyết điểm và hạn chế đó một phần do nhà trường, nhưng phần không nhỏ do xã hội. Chúng ta chưa có một môi trường công nghiệp, đòi hỏi người lao động cống hiến thực sự, hết khả năng và được trả công xứng đáng với kết quả lao động của mình. Xây dựng môi trường đó là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó nhà trường và các nhà sử dụng lao động là chủ chốt. Nhân đây, xin kiến nghị Bộ Công Thương, các doanh nghiệp chủ động hơn, liên kết và hỗ trợ các trường về định hướng, yêu cầu cũng như cơ sở vật chất, nơi thực tập, đồ án,... để cùng được thừa hưởng những thành quả đào tạo tốt hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mechatronika, ČVUT Praha,
2. University of Waterloo and the Canadian Society for Mechanical Engineering: Proceedings of the forum on Mechatronics Education in Canada: Past Experience and Future Directions, May 18, 2001 at University of Waterloo.
3. Yves Piguet, Francesco Mondada and Roland Siegwart Institut de Systèmes Robotiques Swiss Federal Institute of Technology Lausanne (EPFL), Switzerland: New Environment for Learning By Doing in Mechatronics Education.
4. Brad Nelson, Zoltan Nagy, Karl Vollmers: Mechatronics Education at the Institute of Robotics and Intelligent Systems (IRIS) Institute of Robotics and Intelligent Systems (IRIS), Multi Scale Robotics Laboratory (MSRL), ETH Zurich.
5. Chiến lược phỏt triển khoa học và cụng nghệ Việt Nam đến năm 2010" (Ban hành kèm theo Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg, ngày 31-12-2003 của Thủ tướng Chính phủ).
6. http://www.pw.edu.pl/english/index.html. Trang Web của Faculty of Mechatronics, Warsaw University of Technology.
7. A Degree of Synergy - The Interdisciplinary Nature of Mechatronics Education, IEEE. Robotics & Automation Magazine, Vol. 8, No. 2, Jun 2001.
8. David G. Alciatore, Michael B. Histand: Integrating Mechatronics into a Mechanical Engineering Curriculum, IEEE. Robotics & Automation Magazine, Vol. 8, No. 2, Jun 2001.
9. ĐHBK Hà Nội: Chương trỡnh tiờn tiến giỏo dục đại học ngành Cơ điện tử, 2006.
10. Bộ GD&ĐT: Chương trỡnh khung giỏo dục đại học khối ngành kỹ thuật - Ngành Cơ điện tử (dự thảo), 2008.
11. ĐHKH&CN Nam Kinh: Tuyển tập chương trỡnh đào tạo đại học, 2005.
12. Viện KHGD - Trung tâm thông tin - thư viện KHGD: Các lý thuyết và mô hình giáo dục hướng vào người học ở phương tây - Hà nội 2001.
13. Tuyển tập hội nghị toàn quốc về giảng dạy cơ điện tử, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2005.

Tác giả: GS.TS Đào Văn Hiệp - Báo cáo tại Hội thảo QG về đào tạo nhân lực cơ khí - 2009.
 

xuanmanh88

Học sinh phổ thông
#4
Đang định bảo những dòng này giống của thầy Hiệp thế...... đọc đến cuối thấy luôn "Tác giả: GS.TS Đào Văn Hiệp - Báo cáo tại Hội thảo QG về đào tạo nhân lực cơ khí - 2009". :D.

 

Quảng cáo Google